♀♂♥ღஐ:._ (Lê Tấn Bê secondary school) _.:ღஐ♥♀♂

Cùng nhau tâm sự mọi ngừơi nhé , hãy trải nghiệm mình vào cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tươi đẹp đang chờ ta phía trứơc.Góc nhỏ này sẽ giúp cho ta hiểu nhau hơn cũng nhau thăt chặt tình thương giữa bạn bè thầy cô trừơng thcs Lê Tấn Bê...
 
Trang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Liên hệ với Admin

Admin
Latest topics
Top posters
•Kan <3
 
nuoc1982
 
wardoom
 
danggialong96
 
zkofd8
 
Candy
 
jekY.cold
 
nuocxanh1982
 
♥BunBun
 
Princelove
 
Chế độ điểm thưởng
Mon Mar 07, 2011 9:14 pm by Admin
Từ ngày hôm nay 4rum sẽ bắt đầu có chế độ điểm thưởng Smile Smile
Đầu tiên điểm thưởng để làm gì Smile khi có điểm thưởng bạn sẽ có thể dùng nó để mua tài sản cho mình (khoảng vài ngày nữa sẽ có shop bán tài sản trong 4rum) nhớ là mua vừa phải mà đủ để người ta …

Comments: 3
Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Affiliates
free forum

June 2018
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar

Share | 
 

 Friedrich August Kekulé von Stradonitz (1829 – 1896)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nuocxanh1982

avatar

Tổng số bài gửi : 158
Reputation : 1
Join date : 18/12/2011
Age : 35
Đến từ : Ngôi nhà hóa học

Bài gửiTiêu đề: Friedrich August Kekulé von Stradonitz (1829 – 1896)   Tue Dec 20, 2011 12:43 am

FRIEDRICH AUGUST KEKULÉ VON STRADONITZ (1829 – 1896)

1. Cuộc đời
Friedrich August Kekulé von Stradonitz (August Kekulé) (1829 - 1896) là một nhà hóa học hữu cơ Đức. Một trong những nhà hóa học nổi bật nhất ở châu Âu từ những năm 1850 cho đến khi ông mất, đặc biệt là trong lĩnh vực lý thuyết, ông là người sáng lập chính của lý thuyết về cấu trúc hóa học.



Kekulé sinh ngày 7 tháng 9 năm 1829 tại Darmstadt, nước Đức.
Ở bậc trung học, Kekulé đọc thông viết thạo 4 ngoại ngữ Pháp, Latinh, Ý và Anh. Ông rất thích đào sâu suy nghĩ kỹ càng các vấn đề và rồi tìm ra đáp án có ý tứ sâu sắc, mới mẻ. Từ nhỏ Kekulé có năng khiếu về hội họa, kiến trúc. Ông đã thiết kế ba tòa nhà đẹp ở Darmstadt thời đó và sáng tạo nên bức tranh “Sân lâu đài Heidelberg”.
Sau khi tốt nghiệp trung học, năm 1847 ông vào trường Đại học Giessen, học ngành kiến trúc. Ở trường Đại học Giessen, sau khi nghe các bài giảng của Justus von Liebig, ông quyết định chuyển sang học hóa học.
Năm 1851, ông du học ở Pháp. Ở Paris, Kekulé nghe các bài giảng hóa học, kĩ thuật hóa học, hóa lí và vật lí tại học viện Sorbonne. Nhưng may mắn lớn của ông là cuộc gặp gỡ với Charles Gerhardt, người đã xây dựng nên thuyết kiểu, một bước tiến quan trọng trong hóa học hữu cơ thời bấy giờ. Nhờ sự tiếp xúc với Gerhardt, Kekulé có một tầm nhìn tổng quát về các vấn đề lí thuyết của hóa học, các hiện tượng đồng đẳng và tính chất cơ bản của các loại hợp chất. Những năm về sau, Kekulé đã phát triển thuyết kiểu lên một bước mới đề xuất lí thuyết về hóa trị và sự tạo thành mạch cacbon trong chất hữu cơ. Mùa hè năm 1852, Kekulé rời Pari và ngày 25 tháng 5 năm 1852 ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học tại đại học Giessen. Sau một năm làm việc ở Thụy Sĩ, ông đến London, Anh năm 1853. Sau một thời gian làm việc ở London, năm 1858 Kekulé trở thành giáo sư hóa học tại trường đại học tổng hợp Gent nước Bỉ, và chính trong thời gian làm việc ở đây ông đã hoàn thiện lí thuyết về cấu trúc vòng benzen và các hợp chất thơm, tuy thế một phần đáng kể của công trình này còn được tiếp tục phát triển khi ông đã trở về Đức làm viện trưởng viện hóa học của trường đại học tổng hợp Bonn (1867 - 1896).
Năm 1895 Kekulé được được Kaiser Wilhelm II của Đức phong tước quý tộc, cho phép ông quyền thêm “von Stradonitz” vào tên của mình. Trong năm Giải thưởng Nobel Hóa học đầu tiên , sinh viên của Kekule giành ba giải: Van 't Hoff năm 1901, Fischer năm 1902 và Baeyer năm 1905.
Ngày 13 tháng 6 năm 1896 Kekulé qua đời tại Bonn, Đức.

Bảy năm sau, đài tưởng niệm Kekulé trước cửa Viện hóa học của trường đại học tổng hợp Bonn đã được khánh thành. Ở Bonn cũng như ở Darmstadt, quê hương Kekulé, đều có những đường phố mang tên ông.
Sự thành đạt khoa học của Kekulé thật lạ thường, nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là hầu hết các tư tưởng thiên tài đều đến với ông trong những khi nửa mơ nửa tỉnh. Vì thế Kekulé đã khuyên các nhà hóa học trẻ tuổi: “Hãy học cách nằm mơ, và có thể khi ấy các bạn sẽ tìm sự thực… Chỉ có điều đừng có công bố các giấc mơ của chúng ta trước khi chúng được kiểm nghiệm bằng các hiểu biết tỉnh táo”.

2. Thành tựu

Trên cơ sở ý tưởng của ông về những người đi trước như Williamson, Edward Frankland, William Odling, Auguste Laurent, Charles Adolphe Wurtz và những người khác, Kekulé đưa ra lý thuyết về cấu trúc hóa học (1857 - 1858). Lý thuyết này xuất phát từ ý tưởng của hóa trị nguyên tử, đặc biệt là hóa trị IV của cacbon (mà Kekulé công bố vào cuối năm 1857) và khả năng của các nguyên tử cacbon liên kết với nhau (công bố trong một bài báo được xuất bản tháng 5 năm 1858), đến việc xác định thứ tự liên kết của tất cả các nguyên tử trong một phân tử. Archibald Scott Couper nghiên cứu độc lập và đi đến ý tưởng về trật tự liên kết của các nguyên tử cacbon (tờ báo của ông xuất hiện trong tháng 6 năm 1858), và cung cấp các công thức phân tử đầu tiên, tượng trưng cho liên kết giữa các nguyên tử.
Đối với các nhà hóa học hữu cơ, lý thuyết về cấu trúc cung cấp những hiểu biết mới, ấn tượng, rõ nét, và hướng dẫn đáng tin cậy cho cả việc phân tích và đặc biệt là tổng hợp. Kết quả là lĩnh vực hóa hữu cơ phát triển bùng nổ từ thời điểm này. Trong số những người tích cực nhất trong việc nghiên cứu về cấu trúc, ngoài Kekulé và Couper, còn có Frankland, Wurtz, Alexander Crum Brown, Emil Erlenmeyer, và Aleksandro Mikhailovich Butlerov.
Ý tưởng của Kekulé gán cho nguyên tử vị trí nhất định trong phân tử, và kết nối chúng dưới dạng sơ đồ bằng cách sử dụng những gì ông gọi là "hóa trị" hay "sự liên kết", chủ yếu là dựa trên dấu hiệu từ các phản ứng hóa học , hơn là về những phương pháp dùng các phương tiện để có thể quan sát kĩ trực tiếp vào các phân tử, chẳng hạn như dựa vào hiện tượng nhiễu xạ tia X mà xác định cấu trúc tinh thể. Những phương pháp như vật lý xác định cấu trúc vẫn chưa được phát triển, do đó, các nhà hóa học cùng thời với Kekulé đã phải dựa gần như hoàn toàn vào phương pháp hóa học sơ khai. Một số các nhà hóa học, đặc biệt là Adolph Wilhelm Hermann Kolbe, chỉ trích nặng nề việc sử dụng các công thức cấu trúc đã được cung cấp, như ông nghĩ, mà không có bằng chứng. Tuy nhiên, hầu hết các nhà hóa học theo sự chỉ đạo của Kekulé theo đuổi và phát triển cấu trúc lý thuyết cổ điển, được sửa đổi sau khi phát hiện ra các điện tử (1897) và phát triển của cơ học lượng tử (trong những năm 1920).
Thành tựu nổi tiếng nhất của Kekulé là xác định cấu trúc của benzen.



Năm 1865 Kekulé xuất bản một bài bằng tiếng Pháp cho thấy rằng các nguyên tử cacbon trong phân tử benzen liên kết thành một vòng sáu cạnh với liên kết đơn, đôi xen kẽ. Năm sau ông xuất bản một bài báo dài hơn bằng tiếng Đức cùng một chủ đề. Các công thức kinh nghiệm cho benzen đã được biết từ lâu, nhưng cấu trúc của nó không bão hòa rất cao là một thách thức để xác định. Archibald Scott Couper năm 1858 và Joseph Loschmidt năm 1861 cho thấy các cấu trúc có thể có chứa nhiều liên kết đôi hoặc nhiều vòng , nhưng việc nghiên cứu các hợp chất thơm được trong những năm đầu tiên, và quá ít bằng chứng có giá trị để giúp các nhà hóa học quyết định bất kỳ cấu trúc cụ thể nào.
Thêm bằng chứng có giá trị vào năm 1865, đặc biệt là về mối quan hệ của đồng phân thơm, Kekulé lập luận đề xuất của mình cho cấu trúc bằng cách xem xét số lượng đồng phân các dẫn xuất của benzen. Đối với mỗi dẫn xuất mono của benzen (C6H5X, nơi X: Cl, OH, CH3, NH2, vv) bao giờ cũng chỉ tìm thấy có một đồng phân, ngụ ý rằng tất cả sáu nguyên tử cacbon là tương đương, thay thế vào bất kỳ cacbon nào cũng chỉ cho một sản phẩm duy nhất. Đối với các dẫn xuất thế 2 lần như toluidines, C6H4(NH2)(CH3), đã quan sát được ba đồng phân, mà Kekulé đề xuất cấu trúc với hai nguyên tử carbon cách nhau bằng một, hai và ba liên kết cacbon-cacbon, sau đó đặt tên ortho, meta và para đồng phân tương ứng.
Tuy nhiên việc đếm các đồng phân có thể có của các dẫn xuất 2 lần thế được chỉ trích bởi Albert Ladenburg, một sinh viên cũ của Kekulé, người lập luận rằng cấu trúc mà Kekulé đề nghị vào năm 1865 có hai cấu trúc "ortho" khác biệt, tuỳ thuộc vào việc các nguyên tử cacbon được thay thế bị phân cách bởi một liên kết đơn hoặc một liên kết đôi. Từ dẫn xuất ortho của benzen đã không bao giờ thực sự tìm thấy nhiều hơn một dạng đồng phân , Kekulé đã chỉnh sửa đề xuất của ông vào năm 1872 và đề nghị rằng các phân tử benzen dao động giữa hai cấu trúc tương đương, trong một cách mà vị trí của các liên kết đơn, đôi liên tục trao đổi. Điều này có nghĩa rằng tất cả sáu liên kết cacbon-cacbon là tương đương. Một cơ sở lý luận vững chắc hơn cho một ý tưởng tương tự sau đó được đề xuất vào năm 1928 bởi Linus Pauling, người thay thế dao động của Kekulé bởi khái niệm về cộng hưởng giữa các cấu trúc cơ học lượng tử.



So với các công trình to lớn khác của Kekule, sự phát hiện lí thuyết vòng benzen có tầm quan trọng lớn hơn nhiều không chỉ do ứng dụng to lớn của các hợp chất thơm trong hóa học, công nghiệp chất nổ, phẩm nhuộm và dược phẩm, mà chính ở chỗ nó khẳng định rằng tất cả các tính chất của dãy các hợp chất đều liên quan với đặc điểm cấu trúc của phân tử.

Năm 1890, Hội hóa học Đức đã tổ chức ngày hội vòng benzen để vinh danh Kekulé, kỷ niệm 25 Kekule đưa ra cấu trúc phân tử benzen. Tại đây Kekule đã kể lại “Trong thời gian ở Gent, nước Bỉ, tôi sống trong một căn hộ độc thân xinh xắn trên một phố lớn, nhưng phòng làm việc của tôi lại nằm tiếp giáp với một ngõ nhỏ và thường không đủ ánh sáng. Đối với nhà hóa học, cả ngày đã sống trong phòng thí nghiệm thì điều đó cũng không phải là dở. Một lần tôi ngồi viết sách, nhưng không sao làm việc được, tư tưởng của tôi đang hướng vào chuyện khác. Tôi quay ghế về phía lò sưởi và thiu thiu ngủ. Trước mắt tôi lởn vởn hình ảnh các nguyên tử, từng nhóm nhỏ dính vào nhau lờ mờ ở xa xa. Những hình tượng ấy cứ lặp đi lặp lại nhiều lần và dần dần tôi nhận ra một hình ảnh đậm nét trong cả bức tranh phức tạp. Đó là chuỗi nguyên tử dài luôn chuyển động, nhiều lần cụm lại với nhau giống như những con rắn uốn lượn. Và rồi kìa, một trong những con rắn ấy cắn vào đuôi của mình tạo thành vòng khép kín một cách chế nhạo trước mắt tôi. Như bị sét đánh, tôi bừng tỉnh và thức hết phần còn lại của đêm đó để hoàn thành lí thuyết của mình”.


Tài Sản của nuocxanh1982
Tài sản
Tài sản:

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 

Friedrich August Kekulé von Stradonitz (1829 – 1896)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
♀♂♥ღஐ:._ (Lê Tấn Bê secondary school) _.:ღஐ♥♀♂ :: CHƯƠNG 4: HIĐROCACBON. NHIÊN LIỆU :: THƯ VIỆN :: CUỘC ĐỜI VÀ THÀNH TỰU-
Chuyển đến