♀♂♥ღஐ:._ (Lê Tấn Bê secondary school) _.:ღஐ♥♀♂

Cùng nhau tâm sự mọi ngừơi nhé , hãy trải nghiệm mình vào cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tươi đẹp đang chờ ta phía trứơc.Góc nhỏ này sẽ giúp cho ta hiểu nhau hơn cũng nhau thăt chặt tình thương giữa bạn bè thầy cô trừơng thcs Lê Tấn Bê...
 
Trang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Liên hệ với Admin

Admin
Latest topics
Top posters
•Kan <3
 
nuoc1982
 
wardoom
 
danggialong96
 
zkofd8
 
Candy
 
jekY.cold
 
nuocxanh1982
 
♥BunBun
 
Princelove
 
Chế độ điểm thưởng
Mon Mar 07, 2011 9:14 pm by Admin
Từ ngày hôm nay 4rum sẽ bắt đầu có chế độ điểm thưởng Smile Smile
Đầu tiên điểm thưởng để làm gì Smile khi có điểm thưởng bạn sẽ có thể dùng nó để mua tài sản cho mình (khoảng vài ngày nữa sẽ có shop bán tài sản trong 4rum) nhớ là mua vừa phải mà đủ để người ta …

Comments: 3
Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Affiliates
free forum

December 2017
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031
CalendarCalendar

Share | 
 

 Lịch sử Hóa học: Thời kì hóa học hiện đại

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nuocxanh1982

avatar

Tổng số bài gửi : 158
Reputation : 1
Join date : 18/12/2011
Age : 35
Đến từ : Ngôi nhà hóa học

Bài gửiTiêu đề: Lịch sử Hóa học: Thời kì hóa học hiện đại    Mon Dec 19, 2011 11:25 pm

Thời kì hóa học hiện đại (từ đầu thế kỉ 19 đến nay)

1. Đặc điểm

Đây là thời kì liên tục khám phá ra các định luật định lượng trong hóa học làm cơ sở cho sự hình thành thuyết Nguyên tử - Phân tử.
Đây là thời kì sự xâm lược và khai thác thuộc địa tạo điều kiện cho một số nước tư bản phát triển tích lũy được một số lớn của cải, chế tạo vũ khí, dược liệu, ... do đó xuất hiện nhu cầu và khả năng tổ chức nghiên cứu khoa học một cách tập trung ... và trong hóa học xuất hiện sự phân hóa nhanh chóng, nhiều ngành hóa học phát triển thành khoa học riêng: hóa vô cơ, hóa hữu cơ, hóa lý, hóa phân tích, hóa kĩ thuật, …
Thêm vào đó, cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần thứ hai đang tiến hành với tốc độ và qui mô chưa từng có tạo điều kiện cho hóa học bước vào một thời kì phát triển mới với những phương tiện nghiên cứu mới cả về lý thuyết và thực nghiệm.

2. Giai đọan 1: Thế kỉ 19

Sự phát triển của nghiên cứu định lượng. Điện hóa học
- Lavoadiê có công lớn chỉ đường cho các nhà hóa học là dùng đo lường khối lượng cụ thể giúp hiểu bản chất của các phản ứng hóa học.
- Năm 1800, A.Vonta phát minh ra pin điện đầu tiên.
- Humphry Davy (1778 – 1829), nhà bác học Anh là người đầu tiên sử dụng dòng điện vào phân tích hóa học tìm ra K, Na, Ba, Sr.
- M.Farađây (1791 – 1867) đưa ra định luật về điện phân, tạo ra hàng loạt thuật ngữ điện hóa học mà chúng ta còn dùng ngày nay như: sự điện phân, chất điện li, các điện cực anot và catot, cực ion, anion và cation ...
Sự xây dựng thuyết nguyên tử khoa học
- Năm 1799, J.L.Proust (1755 – 1862) đưa ra định luật thành phần không đổi “ Một hợp chất hóa học điều chế bằng bất cứ cách nào, luôn luôn có thành phần không đổi” .
- Năm 1808, Dalton (1766 – 1844) đưa ra 1 học thuyết nguyên tử: “Các nguyên tố được cấu tạo bằng nguyên tử, nguyên tử có khối lượng không đổi, các nguyên tử trong hợp chất hóa hợp với nhau theo những tỉ lệ đơn giản”.
Gaylussac (1787 – 1850)
• Tổng hợp được nước trong ống đo khí: 2 thể tích Hidro hóa hợp với 1 thể tích Oxi tạo nên 2 thể tích Nước.
• Khi 2 khí kết hợp với nhau thì có 1 tỉ lệ đơn giản giữa thể tích của chúng trong cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất.
• Nếu hợp chất thu được cũng là khí thì có 1 tỉ lệ đơn giản giữa tỉ lệ của nó và các khí thành phần.
Amedeo Avogadro (1776 – 1856)
• Nhà vật lí và hóa học Italia. Năm 1811, đề xuất giả thuyết về cấu tạo phân tử của vật chất, tìm ra một trong các định luật cơ bản của chất khí, mà ngày nay, định luật này mang tên Avơgadro.
• 1811 ông đưa ra định luật: “Tất cả các khí trong cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất chứa trong thể tích bằng nhau thì có 1 số phân tử như nhau”.
• Định luật này được thế giới công nhận vào năm 1850.
• Ông còn đưa ra số Avogadro N = 6,023.1023 mol, dùng để xác định đơn vị số lượng vật chất là mol.
• Dalton coi phân tử và nguyên tử là 2 từ đồng nghĩa. Định luật Gay Luyssac về thể tích chất khí cho rằng các chất khí không phải gồm nguyên tử độc lập, gồm những phần tử khá phức tạp hơn gọi là phân tử.
• Trong phản ứng giữa các chất khí, các phân tử tác dụng nhau chứ không phải là các nguyên tử.
• Dần dần vài nhà hóa học quan niệm phân tử khí gồm 2 nguyên tử (các khí đơn giản H2, Cl2, O2, ...) có phân tử khí gồm nhiều nguyên tử hơn.
• Mãi giữa thế kỷ 19 các nhà hóa học vẫn chưa thể viết đúng 1 CTHH.
Stanislao Cannizzaro (1826 – 1910)
• 1860 ông trình bày hệ thống xác định khối lượng nguyên tử và phân tử bằng thực nghiệm. Trên cơ sở giả thuyết Avogadro, hội nghị quốc tế thông qua các định nghĩa:
• Phân tử là phần tử nhỏ nhất của 1 chất có khả năng tồn tại độc lập.
• Nguyên tử là lượng nhỏ nhất của nguyên tố chứa trong 1 phân tử.
- Vào những năm đầu của thế kỉ 19, tình hình hóa học đòi hỏi một sự biểu diễn mới các chất hóa học và sự cố định các khối nguyên tử và J.Dalton là người đầu tiên biểu diễn các nguyên tố bằng hình. J.Beczeliut là người cải tiến kí hiệu hóa học của J. Dalton
Jacob Berzelius (1779 – 1848), nhà bác học Thụy Điển, cải tiến kí hiệu hóa học của Dalton, bỏ vòng tròn chỉ cần chữ cái đầu tiên Latinh và khi cần thêm một chữ cái thứ hai của tên gọi: H, O, C, Ca, ... Xuất hiện các KHHH nguyên tố hóa học dùng cho đến ngày nay - Xây dựng các công thức hóa học các đơn chất và hợp chất, chỉ ra những nguyên tố gì và số nguyên tử mỗi nguyên tố trong một phân tử H2, O2, CO, CO2. Tập hợp công thức hóa học các chất thành phương trình hóa học để biểu diễn phản ứng hóa học đồng thời thoả mãn nguyên lý bảo toàn vật chất.
Sự phân ngành hóa học và sự phát triển công nghiệp hóa học
Vào khoảng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khi bắt đầu hệ thống hóa các kiến thức hóa học, các nhà khoa học đã dùng khái niệm hợp chất hữu cơ để chỉ các chất được tạo ra từ cơ thể các sinh vật nhằm phân biệt với các hợp chất vô cơ được tạo ra từ khoáng vật.
Thời đó, người ta cho rằng hợp chất hữu cơ chỉ được tạo thành dưới tác dụng của “lực sống” trong cơ thể các sinh vật. Vì thế, người ta mặc nhiên không nghĩ tới việc tổng hợp chúng trong phòng thí nghiệm.
Năm 1828, F. Vôlơ (F. Wohler) tổng hợp được urê bằng cách đun nóng amoni xianat trong bình thủy tinh, mà như ông nói “không cần đến con mèo, con chó hay con lạc đà nào cả”.
Sau đó vào năm 1845, H. Cônbe tổng hợp được axit axetic. Năm 1862, Bertholot tổng hợp được benzen từ axetilen, rồi nhiều hợp chất hữu cơ khác cũng được tổng hợp. Tất cả đều không cần đến “lực sống”. Những thành công đó đó làm thay đổi quan niệm về hợp chất hữu cơ và góp phần làm cho hoá học hữu cơ trở thành một ngành khoa học thực sự.
Trong cuốn sách xuất bản năm 1861, Kekule đó cho hóa học hữu cơ một định nghĩa hiện đại “là sự nghiên cứu các hợp chất của cabon”.
Các thuyết trên con đường tìm hiểu cấu tạo phân tử hữu cơ
• Thuyết gốc (năm 1815 – Gay Luyxac): Một gốc có thể chuyển dời từ phân tử này sang phân tử kia mà các nguyên tử trong một gốc không tách riêng ra khỏi nhau. Và các thí nghiệm tìm cách tách gốc đang ở trạng thái tự do đều thất bại. Không thể thay thế nguyên tử khác trong một gốc.
• Thuyết thay thế (năm 1834 – J.B Duyma): Có thể thay thế các nguyên tử trong một gốc. Như ông đó thay thế hiđro bằng clo trong phân tử CH3COOH tạo thnh CH2ClCOOH.
• Thuyết kiểu: Khoảng năm 1840, C.Giehac(Charles Gerhardt - 1816-1856) và Duyma đưa ra thuyết các kiểu: “Tính chất hóa học của các chất hữu cơ chỉ phụ thuộc vào bản chất các nguyên tử”. Thuyết này ông công nhận 4 kiểu: hidro (H - H), hidroclorua (H - Cl), nước (H – O – H), amoniac (H – N - H). Khi thay từng nguyên tử hidro bằng những gốc khác nhau thì sẽ thu được những hợp chất hữu cơ phức tạp. Tuy nhiên về sau số hợp chất hữu cơ tăng nhanh người ta thấy rằng có rất nhiều kiểu liên kết. Vì vậy thuyết kiểu dần dần bị bế tắc.
• Thuyết hóa trị: E.Franklen (Edward Frankland, 1825 – 1899) – nhà hóa học người Anh – ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm hoá trị.
Hóa học cấu tạo
Người có công đầu ở đây là A.Kekule (1829 - 1896), nhà hóa học Đức rất có tiếng, ông xây dựng lý thuyết cấu tạo về các phân tử hữu cơ theo kiểu metan CH4, cacbon trong phân tử C hóa trị 4. Nhà hóa học Shotlun A.Cupơ (Archibald Cooper), đề nghị biểu diễn các lực liên kết giữa các nguyên tử bằng những vạch nối. Nhà hóa học Áo J.Locsomit (Joseph Loschmidt) đề nghị dùng vạch đôi, ba để biểu diễn liên kết đôi ba. Nhà hóa học Giehac đó đưa ra khái niệm đồng đẳng.
• A.M.Butlerop, 1828 – 1886, nhà hóa học Nga đó dùng các kết quả trên để giải thích các hiện tượng đồng phân của các chất có cùng công thức cấu tạo.

3. Giai đọan 2: từ đầu thế kỉ 20

Trong thời kì này, hóa học phát triển lên một mức cao để phục vụ khẩn trương hơn các nhu cầu về sản xuất, về đời sống, đặc biệt giải quyết kịp thời đòi hỏi cấp bách của 2 cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) và lần thứ hai (1939 – 1945). Các phân ngành hóa cơ bản, hóa hữu cơ, hóa vô cơ, hóa đại cương, hóa lí phát triển nhanh, mạnh hơn làm xuất hiện nhiều chuyên ngành quan trọng.
Sự khám phá ra electron, proton, notron:
- Năm 1897, nhà vật lí người Anh J.J.Tômxơn (1856 -1940) tìm ra electron
- Năm 1919, Rutherford nghiên cứu các phản ứng hạt nhân bắn phá hạt nhân nguyên tử nitơ bằng hạt tìm ra phần tử điện tích dương cơ bản đó là proton.
- Năm 1932, nhà vật lí người Anh J.Chatvich (1891 – 1974) dưới sự hướng dẫn của Rutherford, làm thí nghiệm bắn phá hạt nhân nguyên tử beri bằng hạt phát hiện ra notron.
Một số thành tựu mới của hóa vô cơ, hóa hữu cơ phát triển mạnh và nhanh, hóa lí.

4. Nhận xét

Bước vào thế kỉ XIX, hoá học đã có một số cơ sở vững vàng để tiến bộ nhanh như: quan niệm đúng đắn về nguyên tố hoá học, định luật bảo toàn vật chất, sự khẳng định vai trò rất quan trọng của phân tích định lượng. Vào những năm 70 của thế kỉ XIX, hoá học thật sự có được đầy đủ tính chất của một khoa học hiện đại, có một lý thuyết vững chắc dựa trên một cơ sở thực nghiệm chặt chẽ. Từ những năm 60 đến khoảng đầu thế kỷ XX, là lúc hoá học phát triển trên cơ sở thuyết nguyên tử - phân tử, các hiện tượng hoá học được giải thích theo cơ chế nguyên tử - phân tử. Các công trình nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết của hóa học đó phát triển mạnh và các lĩnh vực khác nhau trong hóa học xuất hiện sự phân hóa nhanh chóng.
Hơn nữa từ những năm đầu của thế kỉ XXI, khả năng sáng tạo của con người ngày một vượt bật đã đưa khoa học nói chung và hóa học nói riêng tiến tới đỉnh cao của sự phát triển, đã có rất nhiều ngành công nhệ hóa học mới được ra đời như là: công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới, ...
Tài Sản của nuocxanh1982
Tài sản
Tài sản:

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 

Lịch sử Hóa học: Thời kì hóa học hiện đại

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
♀♂♥ღஐ:._ (Lê Tấn Bê secondary school) _.:ღஐ♥♀♂ :: CHƯƠNG 4: HIĐROCACBON. NHIÊN LIỆU :: THƯ VIỆN :: LỊCH SỬ HÓA HỌC-
Chuyển đến